PT Kỹ thuật Phần 7: Oscillators và Momentum Indicators

Chúng ta đã lướt qua nhiều công cụ phân tích đồ thị và nhận biết các xu hướng. Tuy nhiên quan trọng nhất vẫn là cách sử dụng sao cho hiệu quả và dùng trong những trường hợp nào. Trong bài này, chúng ta sẽ tiếp tục đi sâu hơn vào các trường hợp cụ thể. Chúng tôi muốn bạn am hiểu thông suốt các mặt mạnh và yếu của mỗi công cụ nhờ đó bạn có thể quyết định chọn công cụ nào để sử dụng và sử dụng như thế nào.

7.1 Các công cụ báo sớm (Leading Indicator) và báo trễ (Lagging Indicator)

Có 02 loại công cụ gồm báo hệu sớm (leading) và báo hiệu trễ (lagging). Một công cụ báo hiệu sớm đưa ra tín hiệu mua trước khi một xu hướng mới hoặc một đảo hướng xảy ra. Một công cụ báo hiệu trễ đưa ra tín hiệu sau khi xu hướng đã xảy ra.

Bạn có thể đang nghĩ rằng “tôi sẽ giàu có nhờ vào các công cụ báo hiệu sớm” bởi vì bạn có thể thu lợi từ một xu hướng đúng khi nó vừa bắt đầu và khoản lợi nhuận rất lớn. Tuy nhiên chỉ khi bạn chụp được tất các các xu hướng đúng lúc NẾU công cụ báo hiệu sớm đúng. Nhưng trên thực tế các công cụ báo hiệu sớm thường tạo ra rất nhiều tín hiệu giả và xác suất thành công thấp.

Một lựa chọn khác là sử dụng các công cụ báo hiệu trễ, những công cụ ít khi đưa ra các tín hiệu giả. Các công cụ báo hiệu trễ chỉ đưa ra tín hiệu sau khi biến động giá đang tạo một xu hướng rõ ràng, và bạn thường bỏ qua một khoản lợi nhuận đến khi thực hiện giao dịch. Thường lợi nhuận thu được nhiều nhất của một xu hướng xảy ra trong vài nến đầu tiên vì vậy việc sử dụng các công cụ báo hiệu trễ có thể bỏ lỡ mất nhiều lợi nhuận.

7.2 Oscillators and Trend Following or Momentum Indicators (Công cụ đo dao động và các công cụ theo sau xu hướng)

Phần này phân loại khái quát tất cả các công cụ kỹ thuật thành một trong hai loại sau :

  • Oscillators (Công cụ đo dao động, đo mức độ mạnh yếu của tín hiệu).
  • Trend following or momentum indicators (Công cụ theo sau xu hướng, xác nhận xu hướng đã xảy ra).

Các Oscillator là công cụ báo hiệu sớm, còn các Momentum indicator là công cụ báo hiệu trễ.

7.2.1 Oscillators/Leading Indicators (Công cụ đo dao động/ Công cụ báo hiệu sớm)

Một oscillator là một chỉ báo biến động tới lui giữa hai điểm. Nói cách khác, nó là một khoảng luôn luôn nằm giữa hai điểm A và B. Một oscillator thường báo hiệu “bán” hoặc “mua” khi chỉ số vượt qua một ngưỡng nhất định, trừ trường hợp khi oscillator không rõ điểm kết thúc của chu kỳ mua/bán.

Stochastics, Parabolic SAR và RSI là các oscillators. Mỗi công cụ được thiết kế để báo hiệu một khả năng đảo hướng, vị trí mà xu hướng trước đó kết thúc và giá bắt đầu chuyển hướng đảo chiều.

Chúng ta sẽ phân tích chi tiết biểu đồ sau:

Trong biểu đồ trên, chúng ta sử dụng 3 chỉ báo là: Parabolic SAR, RSI và Stochastic. Như bạn đã học, khi Stochastic và RSI bắt đầu thoát khỏi vùng quá bán, còn SAR xuống dưới đường giá đó là một tín hiệu mua. Trên biểu đồ cho tín hiệu mua (mũi tên xanh) khi cả ba chỉ báo trên đều báo mua và đây là một giao dịch cho xác suất thành công cao.

Tiếp sau đó, Stochastic đã duy trì quá mua trong thời gian khá lâu, báo hiệu một xu hướng tăng mạnh sắp xảy ra. Cuối cùng, tín hiệu bán xuất hiện (mũi tên đỏ) khi cả 3 chỉ báo trên lần lượt báo bán. Lợi nhuận thu được rất tốt, tuy nhiên câu hỏi đặt ra là nếu chúng ta không sử dụng kết hợp cả 3 chỉ báo trên mà chỉ dùng 1 hoặc 2 chỉ báo thì kết quả sẽ thế nào? Hãy cùng theo dõi tiếp ví dụ dưới đây.

Trong biểu đồ trên, nếu chỉ sử dụng 2 chỉ báo RSI và Stochastic sẽ cho 4 tín hiệu mua (mũi tên xanh) và xác suất thành công rất thấp, nhưng nếu sử dụng thêm SAR thì chúng ta sẽ loại được hầu hết các tín hiệu trên hoặc sẽ đóng trạng thái mua sớm để tránh rủi ro khi SAR đảo chiều không thành công hay SAR đảo chiều đầu tiên xuất hiện dưới một nến đỏ dài (tín hiệu đảo chiều yếu và khó thành công). Vậy tại sao lại có sự khác biệt lớn giữa các oscillator trên và cụ thể là giữa 3 chỉ báo trên?

Câu trả lời nằm trong phương pháp tính toán đối với mỗi công cụ. Stochastic được dựa trên phạm vi giá cao tới giá thấp, RSI tính theo giá đóng cửa, còn SAR tính theo công thức riêng, ngoài ra khoảng thời gian tính khác nhau (chu kỳ tính khác nhau). Vì vậy đã tạo nên sự khác biệt giữa các chỉ báo.

Chúng ta quan tâm đến việc tại sao một công cụ báo hiệu sớm có thể sai, nhưng không có cách nào để tránh điều này. Nếu bạn nhận được các tín hiệu lẫn lộn, tốt hơn hết là bạn đừng làm gì. Nếu một đồ thị không thỏa mãn tất cả các tiêu chuẩn của bạn, đừng tiến hành giao dịch! Chuyển sang tín hiệu kế tiếp nếu nó thỏa mãn các tiêu chuẩn của bạn.

7.2.2 Momentum/Lagging Indicators (Các công cụ báo hiệu trễ)

Vậy thì chúng ta phát hiện ra một xu hướng như thế nào? Các công cụ có thể thực hiện điều này là MACD và các đường trung bình. Các công cụ này sẽ phát hiện ra các xu hướng tuy nhiên chúng ta sẽ phải chấp nhận độ trễ của tín hiệu (sẽ không mua bán được đúng ở đỉnh/ đáy). Hãy cùng quan sát đồ thị dưới đây:

Trên biểu đồ, MACD cho tín hiệu mua đầu tiên (mũi tên xanh) khi đường MACD cắt lên đường tín hiệu và sau đó 2 nến thì đường EMA 10 đã cắt lên trên đường EMA 20 cho tín hiệu mua thứ 2 (mũi tên tím). Như vậy cả 2 tín hiệu đều chính xác, nhưng nếu bạn đợi đến khi cả 2 công cụ đưa cho bạn tín hiệu mua thì bạn đã lỡ mất một biến động lớn. Vậy nên giao dịch như thế nào đối với các chỉ báo theo sau xu hướng?

Đối với tín hiệu mua, để đạt hiệu quả cao nhất chúng ta nên giao dịch ngay khi MACD báo mua và tín hiệu mua thứ 2 (trễ hơn) là sự xác nhận chắc chắn cho xu hướng hiện tại. Đặc biệt ưu tiên các trường hợp khi các chỉ báo cho tín hiệu gần nhau và cùng pha. Tuy nhiên đối với tín hiệu bán nên đợi báo bán từ cả 2 chỉ báo và chỉ nên giao dịch khi các tín hiệu bán gần nhau, bởi vì tốc độ giảm giá thường nhanh hơn nhiều so với tăng giá. Hãy cùng quan sát đồ thị dưới đây:

Trong đồ thị, xuất hiện tín hiệu báo bán bị sai và chúng ta cần phải tránh hoặc chủ động phản ứng nhanh những trường hợp như vậy. Trong tín hiệu báo bán đầu tiên, MACD cho tín hiệu bán, sau đó khoảng 8 nến thì đường EMA10 mới cắt xuống đường EMA20, tuy nhiên giá giảm không đáng kể và quay đầu tăng trở lại ngay sau đó. Rõ ràng tín hiệu bán này không mạnh do giá phần lớn đi ngang và khoảng cách báo bán của 2 chỉ báo khá xa nhau.

7.3. Nên sử dụng tín hiệu nhanh hay tín hiệu chậm

Làm thế nào bạn tính toán được việc nên sử dụng oscillator hay trend following indicator hay cả hai? Rõ ràng, chúng ta biết chúng không luôn luôn hoạt động cùng nhau nhưng để đạt được hiệu quả giao dịch cao cần kết hợp linh động. Điều này gần như là vấn đề thử thách lớn nhất trong phân tích kỹ thuật. Chúng tôi sẽ hỗ trợ bạn đọc xây dựng chi tiết một hệ thống giao dịch mua/ bán hiệu quả trong những bài viết tiếp theo.

Bây giờ, bạn đã có thể nhận dạng kiểu thị trường đang giao dịch thế nào, và bạn sẽ biết công cụ nào sẽ đưa ra các tín hiệu chính xác, và các công cụ nào trở nên vô dụng lúc đó.

Bài viết cùng chuyên mục