[CK Cho Người Mới] Phần 9: Các yếu tố ảnh hưởng tới giá cổ phiếu

Giá cổ phiếu luôn tuân theo quy luật cung – cầu, trong ngắn hạn giá cổ phiếu chịu tác động bởi thị trường chung và tâm lý đám đông, còn dài hạn thì yếu tố tăng trưởng của doanh nghiệp ảnh hưởng nhiều hơn. Các rất nhiều yếu tố ảnh hưởng tới giá cổ phiếu trong ngắn hạn và trung hạn, có thể kể tới là:

  1. Ban lãnh đạo hoặc cổ đông lớn mua/ bán cổ phiếu.
  2. Ban lãnh đạo thay đổi nhân sự chủ chốt.
  3. Doanh nghiệp đi thâu tóm hoặc sát nhập.
  4. Doanh nghiệp phát hành tăng vốn hoặc bán ưu đãi cho đối tác chiến lược.
  5. Doanh nghiệp bán tài sản.
  6. Doanh nghiệp có sản phầm mới đột phá hoặc mở rộng lĩnh vực kinh doanh.
  7. Doanh nghiệp được nới room nước ngoài.
  8. Tác động từ chu kỳ kinh doanh theo sóng ngành.
  9. Tác động từ hiệu ứng công ty chứng khoán.
  10. Tác động từ biến động giá hàng hóa thế giới.
  11. Tác động từ thị trường chứng khoán Mỹ.
  12. Tác động từ biến động giá xăng dầu.
  13. Tác động từ biến động tỷ giá ngoại tệ so với việt nam đồng.
  14. Tác động từ biến động giá vàng.
  15. Tác động từ hiệu ứng lễ tết.
  16. Tác động từ chính sách pháp luật (Ví dụ: Tăng lương tối thiểu, ưu đãi thuế, thuế bảo vệ…)
  17. Tác động từ thiên tai, bệnh dịch.

1. Ban lãnh đạo hoặc cổ đông lớn mua/ bán cổ phiếu.

– Động thái mua bán từ những cổ đông nội bộ (HĐQT, Ban kiểm soát, Ban giám đốc, Kế toán trưởng …) sẽ ảnh hưởng ngay tới biến động giá cổ phiếu. Ban lãnh đạo là người nắm rõ nhất thực trạng và tình hình kinh doanh, triển vọng của doanh nghiệp, vì vậy những hành động của họ thường là đi trước với đám đông trên thị trường. Ban lãnh đạo bao gồm: PGD – GĐ – thành viên HĐQT – chủ tịch HĐQT.

– Ba dấu hiệu tác động tích cực lên giá cổ phiếu:

  • Cổ đông nội bộ hoặc doanh nghiệp đăng ký mua cổ phiếu số lượng lớn.
  • Người thân Ban lãnh đạo mua cổ phiếu số lượng lớn.
  • Quỹ đầu tư (cổ đông lớn) đăng ký mua số lượng lớn.

– Đặc biệt khi doanh nghiệp mua cổ phiếu quỹ là dấu hiệu rất tốt, bởi vì khi đó số lượng cổ phiếu lưu hành trên thị trường sẽ giảm đi, các chỉ số tài chính sẽ đẹp hơn, ngoài ra đây là tín hiệu dự báo công ty sẽ hoạt động tốt lên trong tương lai và giá cổ phiểu sẽ tăng lên.

2. Ban lãnh đạo thay đổi nhân sự chủ chốt.

– Thông thường mỗi thay đổi lớn thường kèm theo biến động lớn, yếu tố ban lãnh đạo vô cùng quan trọng khi đánh giá doanh nghiệp. Người lãnh đạo cần tâm huyết, minh bạch, chiến lược kinh doanh sắc bén, tập trung phát triển công ty. Còn nếu lãnh đạo chỉ quan tâm tới làm giá cổ phiếu thì nên tránh xa.

– Nếu chủ tịch đuổi việc giám đốc vì giám đốc thiếu minh bạch gây tổn hại cho công ty thì công ty sẽ tốt lên và doanh thu sẽ tăng lên trong tương lai => Giá cổ phiếu cũng sẽ tăng. Tuy nhiên, nếu lúc đuổi việc mà công ty đã suy thoái quá đà thì cần xem xét vì khó cứu vãn được trong ngắn hạn.

3. Doanh nghiệp đi thâu tóm hoặc sát nhập.

– Các vụ thâu tóm doanh nghiệp thì giá cổ phiếu thường sẽ tăng lên và nên đầu tư. Khi thâu tóm được thông báo thì giá cổ phiếu cả hai bên sẽ biến động mạnh.

– M & A (Mergers and Acquisitions): là việc mua bán và sáp nhập các doanh nghiệp trên thị trường. Những thương vụ M&A đều nhằm mục đích tham gia, quyết định các vấn đề quan trọng của doanh nghiệp bị sáp nhập hay mua lại chứ không đơn thuần là sở hữu cổ phần. M&A thường đem lại rất nhiều lợi ích cho doanh nghiệp: mở rộng thị phần, đạt hiệu quả kinh doanh tốt hơn, giảm số lượng nhân viên cần thiết, giảm những chi phí phát sinh không cần thiết, tận dụng công nghệ được chuyển giao,…Tiến trình sẽ được thực hiện như sau:

  • Một thương vụ mua lại thường được bắt đầu bằng đề xuất của Ban giám đốc với Hội đồng quản trị về việc này.
  • Nếu thuận, hai ban giám đốc sẽ tiến hành thỏa thuận với nhau để M&A mang lại lợi ích lớn nhất có thể cho cả hai bên. Ngược lại, nếu như tính “hữu hảo” không tồn tại – khi mà đối tượng bị mua lại không muốn, thậm chí thực hiện các kỹ thuật tài chính để chống lại, thì nó hoàn toàn mang hình ảnh của một thương vụ mua lại.
  • Như vậy, để “điểm mặt chỉ tên” một thương vụ chính xác là sáp nhập hay mua lại, cần phải xem đến tính chất hợp tác hay thù địch giữa hai bên. Nói cách khác, nó chính là cách ban giám đốc, người lao động và cổ đông của công ty bị mua lại nhận thức về mỗi thương vụ.

Các hình thức thực hiện M&A phổ biến gồm: góp vốn trực tiếp vào doanh nghiệp; mua lại phần vốn góp hoặc cổ phần. Ngoài ra còn có: sáp nhập doanh nghiệp; hợp nhất doanh nghiệp và chia tách doanh nghiệp.

*** Phân tích quá trình M&A của Doanh nghiệp A muốn thâu tóm Doanh nghiệp B:

– Theo quy định: Doanh nghiệp A sẽ phải mua trên 50% cổ phần của doanh nghiệp B và sẽ xảy ra 2 trường hợp:

  • TH1: Mua bán thân thiện được ủng hộ từ HĐQT (Friend takeover).
  • TH2: Thù địch không được ủng hộ từ HĐQT (Hostile takeover).

– Khi cần mua cổ phần của doanh nghiệp B thì doanh nghiệp A phải kêu gọi cổ đông bán lại cổ phần cho mình và ra thông báo thông tin ra công chúng về: Thời hạn mua, Số lượng cổ phiếu và Giá mua cổ phiếu. (Vì theo quy định, muốn mua >5% cổ phiếu mà không thông qua sàn thì phải công khai thông tin giao dịch).

Khi đó giá cổ phiếu của doanh nghiệp B sẽ tăng lên vì:

  • Bên thâu tóm sẽ trả giá cao hơn để mua bằng được.
  • Doanh nghiệp B mua lại cổ phiếu quỹ, hoặc ban lãnh đạo đăng ký mua vào, hoặc công ty sẽ trả cổ tức hấp dẫn để hạn chế cổ đông bán ra. Mục đích là tìm cách không cho doanh nghiệp A mua được cổ phiếu.

– Khi đó cổ phiếu của doanh nghiệp A có thể sẽ phát sinh giảm giá vì:

  • Mất cân đối tài chính vì phải bỏ ra khoản tiền lớn để thâu tóm.
  • Xao lãng việc kinh doanh vì bị phân tán nguồn lực của hoạt động kinh doanh cốt lõi.
  • Rủi ro xung đột giữa hai ban lãnh đạo vì khác biệt văn hoá, ý tưởng và thái độ.
  • Tiêu tốn nhiều thời gian vì có nhiều thương vụ M&A phải mất 2 đến 3 năm mới có hiệu quả thực sự.

– Kết luận chung: Khi có một vụ thâu tóm được công bố, nhà đầu tư nên mua cổ phiếu bên công ty bị thâu tóm và có thể bán cổ phiếu bên công ty đi thâu tóm, chào mua công khai. Tuy nhiên chỉ nên áp dụng trong ngắn hạn và nếu bên bị thâu tóm làm ăn kém hoặc tiềm ẩn rủi ro lớn thì cũng không nên mua.

4. Doanh nghiệp phát hành tăng vốn hoặc bán ưu đãi cho đối tác chiến lược.

– Các doanh nghiệp niêm yết thường tăng vốn bằng các hình thức: Trả cổ tức bằng cổ phiếu, trả tiền thưởng bằng cổ phiếu hay phát hành thêm cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu, hoặc cho đối tác chiến lược với giá ưu đãi.

Bản chất của việc tăng vốn: Có thể phân biệt hai loại tăng vốn bằng phát hành cổ phiếu mới của công ty cổ phần là: Phát hành cổ phiếu mới không thu tiền và phát hành cổ phiếu mới có thu tiền.

  • Phát hành cổ phiếu mới không