Cập Nhật Cổ Phiếu BID – Đẩy Nhanh Giải Quyết Nợ Xấu

Cập nhật kết quả kinh doanh 9T2019: Tái cơ cấu nguồn vốn huy động và đẩy nhanh giải quyết nợ xấu

Tổng thu nhập hoạt động (TOI) của ngân hàng trong Q3/2019 tăng 6,6% YoY đạt 11,59 nghìn tỷ đồng, nhờ thu nhập lãi ròng (NII) tăng 7,4% YoY và thu nhập ròng ngoài lãi (Non-NII) tăng 4,5% YoY. Trong khi chi phí hoạt động được quản lý tốt khiến CIR trong Q3/2019 giảm xuống còn 30,3% từ mức 39% trong Q3/2018, chi phí dự phòng rủi ro tín dụng tăng 32,6% YoY. Đây là yếu tố chính khiến lợi nhuận trước thuế (PBT) chỉ tăng 1,6% YoY đạt 2,32 nghìn tỷ đồng.

Tính đến tháng 9/2019, BID vẫn là ngân hàng đứng số 1 toàn hệ thống về quy mô tổng tài sản, cũng như về thị phần tín dụng và tiền gửi. Tổng tài sản, tín dụng và tiền gửi của ngân hàng tăng trưởng khiêm tốn ở mức 8,6% YTD, 8,2% YTD, và 10,2% YTD. Tăng trưởng tín dụng thấp hơn mức trung bình toàn hệ thống là 9,54% YTD, chỉ cao hơn CTG trong số các ngân hàng niêm yết, và thấp hơn mức 11,2% YTD của chính BID trong 9T2018 do hạn chế về vốn tự có. Tổng tín dụng theo giá trị tuyệt đối tăng 82,2 nghìn tỷ đồng, chỉ bằng 82,5% mức tăng trong 9T2018.

Trong 9T2019, tổng thu nhập hoạt động (TOI) tăng 4,2% YoY đạt 34,26 nghìn tỷ đồng. Thu nhập lãi ròng (NII) chiếm 77,1% tổng thu nhập hoạt động (TOI), tăng 3,1% YoY (chủ yếu do hệ số NIM giảm). Thu nhập ròng từ phí, thu nhập từ giao dịch ngoại hối, và hoàn nhập nợ xấu tăng đáng kể lần lượt là 18,8% YoY, 35,1% YoY, và 17,3% YoY. Điều này bù đắp lại mức giảm trong tổng thu nhập từ chứng khoán đầu tư (-83,4% YoY). Tổng cộng, thu nhập ròng ngoài lãi (non-NII) tăng 8,4% YoY đạt 7,86 nghìn tỷ đồng.

Chi phí hoạt động giảm 4,6% YoY, khiến chỉ số CIR giảm xuống còn 31,3% trong 9T2019, thấp nhất trong số các ngân hàng cùng hệ thống trong phạm vi nghiên cứu của chúng tôi. Tuy nhiên, chi phí dự phòng tăng 14,9% và chi phí tín dụng tăng lên 2,15%, cao hơn mức 1,85% trong năm 2018 và 2,13% trong nửa đầu năm 2019. Do đó, lợi nhuận trước thuế trong 9T2019 đạt 7,03 nghìn tỷ đồng, giảm 3,1% YoY, hoàn thành 68,2% kế hoạch năm là 10,3 nghìn tỷ đồng. BID là ngân hàng duy nhất trong phạm vi nghiên cứu của chúng tôi có lợi nhuận giảm trong 9T2019.

Tái cấu trúc vốn

Điểm nổi bật trong hoạt động kinh doanh của BID trong Q3/2019 là tái cấu trúc vốn, khi ngân hàng đặt mục tiêu giảm dần tiền gửi và trái phiếu dài hạn để giảm chi phí vốn, trước khi sắp được tăng vốn từ thương vụ M&A với ngân hàng Keb Hana. Vốn chủ sở hữu của ngân hàng ước tính tăng 20,3 nghìn tỷ đồng trong Q4/2019, đưa BID lên vị trí số 1 về vốn điều lệ.

Cụ thể, trong Q3/2019, ngân hàng đã mua tất cả tái phiếu vốn cấp 2 kỳ hạn 10 năm phát hành năm 2014 với tổng trị giá 7,3 nghìn tỷ đồng. Sau 5 năm đầu tiên kể từ khi phát hành, lãi suất trái phiếu sẽ được điều chỉnh tăng đáng kể nếu không được ngân hàng phát hành mua lại.

Để thay thế các trái phiếu đó, ngân hàng phát hành 3 nghìn tỷ đồng trái phiếu kỳ hạn 7 năm và 1,1 nghìn tỷ đồng trái phiếu kỳ hạn 10 năm, tất cả đều là trái phiếu cấp 2 có lãi suất thấp hơn.

Ngân hàng cũng điều chỉnh giảm lãi suất tiền gửi để thu hút nguồn vốn ngắn hạn và giảm nguồn vốn dài hạn. Tính tới tháng 9/2019, tổng tiền gửi của khách hàng, chứng chỉ tiền gửi (CD), và trái phiếu có kỳ hạn hơn 1 năm giảm 5 nghìn tỷ đồng (-8,7% YTD). Trong khi đó, tổng huy động với kỳ hạn 3-12 tháng tăng mạnh nhất, +18,1% YTD, trong khi tiền gửi có kỳ hạn dưới 3 tháng chỉ tăng 5,9% YTD. Với tổng huy động tăng 10,2% YTD, cao hơn mức tăng trưởng tín dụng là 8,2% YTD, hệ số LDR ước tính giảm từ mức cao hơn 90% trong năm 2018.

Tái cơ cấu tài sản theo hướng tăng tỷ trọng cho vay ngắn hạn và trái phiếu liên ngân hàng

Với sự dịch chuyển của nguồn vốn tập trung sang ngắn hạn, ngân hàng cũng điều chỉnh cơ cấu tài sản theo hướng tăng tỷ trọng cho vay ngắn hạn để đáp ứng yêu cầu của cơ quan quản lý về tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn. Dư nợ cho vay ngắn hạn chiếm 62,9% tổng dư nợ cho vay trong 9T2019, tăng từ mức 61,8% trong năm 2018. Tỷ trọng dư nợ cho vay dài hạn ổn định ở mức 30,7% tổng dư nợ cho vay để giúp duy trì khả năng sinh lời của các khoản cho vay.

Trong khi đó, với nguồn vốn dự trữ hạn chế, BID tăng đầu tư vào trái phiếu do ngân hàng khác phát hành. Thông thường các trái phiếu này có tài sản đảm bảo là trái phiếu Chính phủ, do đó thường được áp dụng hệ số rủi ro bằng 0 khi tính toán hệ số CAR. Bên cạnh đó, trái phiếu liên ngân hàng có kỳ hạn 2-3 năm, có lợi suất cao hơn so với cho vay ngắn hạn liên ngân hàng. Tỷ trọng trái phiếu liên ngân hàng trên tổng tài sản sinh lãi tăng từ 0,72% trong năm 2018 lên 1,6% trong nửa đầu năm 2019. Mặc dù không có số liệu chi tiết trong Q3/2019, chúng tôi tin rằng xu hướng này vẫn tiếp diễn trong quý 3. Chiến lược này cho phép ngân hàng mở rộng tài sản sinh lãi với chi phí vốn đầu tư thấp.

Hệ số NIM giảm xuống mức thấp nhấp trong 13 quý

Hệ số NIM trong Q3/2019 giảm 19 bps còn 2,55%, đây là mức thấp nhất trong 13 quý vừa qua. Lũy kế, hệ số NIM trong 9T2019 giảm còn 2,46%, – 23 bps YoY, thấp nhất trong các ngân hàng niêm yết. Điều này chủ yếu do chi phí huy động tăng 25 bps YoY trong khi lợi suất tài sản sinh lời không đổi ở mức +1 bps trong kỳ.

Hơn nữa, trong 9T2019, lãi suất huy động trung bình tăng 41 bps YoY, trong khi chi phí trung bình của các công cụ tiền gửi khác tăng 79 bps do ngân hàng (i) tăng huy động tiền gửi dài hạn và phát hành chứng chỉ tiền gửi (CD) dài hạn +20,4% YTD trong nửa đầu năm 2019 để tài trợ cho hoạt động cho vay do thiếu nguồn vốn dài hạn, và (ii) tăng lãi suất huy động chung, đặc biệt đối với kỳ hạn ngắn hạn, tăng 20-30 bps so với các ngân hàng cấp 2, khiến huy động tiền gửi ngắn hạn tăng 11,3% YTD trong 9T2019.

Quyết tâm xử lý nợ xấu

Trong 9T2019, BID sử dụng hơn 70% thu nhập hoạt động trước dự phòng nợ xấu (PPOP) trích lập dự phòng nợ xáu. Trong Q3/2019, tổng nợ nhóm 5 tăng khoảng 15 nghìn tỷ đồng YTD, cao hơn 20% so với Q3/2018, và ngân hàng đã xóa 66,4% trong số nợ này.

Đồng thời, chúng tôi ước tính ngân hàng đã xóa hơn 3,3 nghìn tỷ đồng trái phiếu VAMC trong 9T2019, tương đương hơn 51% dư nợ trái phiếu VAMC ròng đầu năm 2018. Ngân hàng lên kế hoạch xử lý tất cả trái phiếu VAMC trong năm 2019, do đó khoảng 3,1 nghìn tỷ đồng dư nợ trái phiếu VAMC ròng còn lại sẽ tiếp tục được xử lý trong Q4/2019.

Chất lượng tài sản tiếp tục được cải thiện. Mặc dù tỷ lệ nợ xấu (NPL) tăng lên 2,09% từ 1,9% trong năm 2018, tỷ lệ nợ xấu kết hợp (bao gồm dư nợ trái phiếu VAMC) ước tính giảm xuống còn 2,46% từ mức 2,75% trong năm 2017 và 2,56% trong năm 2018. Mặc dù ngân hàng đã xóa khoản lớn trái phiếu VAMC và nợ xấu trong 9T2019, hệ số LLC cải thiện lên 78,2% từ 66% trong năm 2018.

Tăng vốn: Trong tháng 11/2019, BID và ngân hàng KEB Hana hoàn tất thủ tục để ngân hàng Keb Hana trở thành cổ đông chiến lược của BID, với 15% cổ phần. Cụ thể, BID đã phát hành 603,3 triệu cổ phiếu với mức giá 33.640 đồng/CP. Sau khi phát hành, BID đạt 40,22 nghìn tỷ đồng vốn điều lệ, cao nhất trong hệ thống ngân hàng.

Ngày 7/11/2019 là ngày giao dịch không hưởng quyền để BID trả cổ tức bằng tiền mặt cho năm 2017 và 2018, tỷ lệ 7% trên mệnh giá cho mỗi năm. Tổng tỷ suất cổ tức là khoảng 3,3%.

Định giá và quan điểm đầu tư

Ở mức giá hiện tại là 42.000 đồng/CP, BID đang giao dịch ở mức PB 2019 và 2020 lần lượt là 2,2 lần và 2 lần.

Giá mục tiêu hiện tại cho BID của chúng tôi là 42.900 đồng/CP, sử dụng PB mục tiêu 2020E là 2 lần và BVPS 2020E là 21.435 đồng. Tương ứng xếp hạng PHÙ HỢP THỊ TRƯỜNG.

Nguồn SSI

Bài viết cùng chuyên mục